Đại lý thuế – Anh là ai?

Ngày 6 tháng 7 năm 2016

Đại lý thuế – Anh là ai?

Các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp) và ngay cả giới truyền thông, giới học thuật đến cả cán bộ thuế… có đỏ mắt dò tìm trong Luật thuế, Luật Quản lý thuế và toàn bộ Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, đều không thể tìm thấy có từ nào là “Đại lý thuế”.

Vậy Đại lý thuế là gì? Làm sao phát triển Đại lý thuế, khi không mấy ai hiểu nỗi, Đại lý thuế là gì?

Chỉ những doanh nghiệp nào thực sự muốn kinh doanh dịch vụ về thuế, phải tìm hiểu qui định pháp luật chuyên ngành thì mới có thể tìm thấy từ “Đại lý thuế”. Từ này, chỉ xuất hiện trong Thông tư số 28/2008/TT-BTC (và sau nầy là Thông tư 117/2012/TT-BTC) trong dòng chữ ngắn ngủi:

Điều 1.Thông tư này áp dụng đối với Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (sau đây gọi chung là đại lý thuế).”

Do đó, theo Bộ Tài chính:

– Đại lý thuế là TÊN GỌI CHUNG  của các tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; và   

– Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thì đã được định nghĩa rõ tại Điều 20, Luật Quản lý thuế 2006: “…là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế…


Như vậy, Mô hình Đại lý thuế của chúng ta được định hình trên ba đặc điểm pháp lý: 

(1) Đại lý thuế là chỉ là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và theo hợp đồng thoả thuận với khách hàng;

(2) Đại lý thuế chỉ là những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ riêng lẻ, không có cơ chế liên hiệp thành Hội và Hiệp hội, trực thuộc sự quản lý của Bộ Tài chính/Tổng cục Thuế (BTC/TCT) -như Nhật bản.

(3) Cá nhân không được làm Đại lý thuế.


Mô hình Đại lý thuế như trên đã dẫn đến hệ quả là khó thể bàn đến những giải pháp đột phá để phá vỡ những lực cản và phát triển mạnh mẽ hệ thống đại lý thuế, theo mong muốn của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

– Thứ nhất, Mô hình này chỉ ghi nhận Đại lý thuế là một tổ chức kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp;  không làm rõ được sứ mệnh của Đại lý thuế là hỗ trợ người nộp thuế trong việc tuân thủ pháp luật về thuế.

Nếu Đại lý thuế không có sứ mệnh nêu trên, thì việc gì BTC/TCT phải quan tâm tìm giải pháp phát triển hệ thống đại lý thuế?

Nếu Đại lý thuế không có sứ mệnh nêu trên, thì việc gì Cục thuế, Chi cục thuế quản lý DN trực tiếp phải quan tâm hỗ trợ cho đại lý thuế? Cơ quan thuế nào có trách nhiệm chia sẻ, hỗ trợ đại lý thuế trong việc giới thiệu hoạt động đại lý thuế với cộng đồng DN tại địa phương; trong đào tạo, giám sát hoạt động nghiệp vụ của đại lý thuế?

Hơn nữa, làm sao phát triển được hệ thống, nếu chỉ có một bên –là BTC/TCT – quan tâm vạch kế hoạch và đặt chỉ tiêu phát triển đại lý thuế; trong lúc bên khác -các doanh nghiệp kinh doanh – không hề tìm thấy động lực kinh tế khi tham gia kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế?

– Thứ hai, nếu không có cơ chế thành lập Hội, Hiệp hội Đại lý thuế dưới sự quản lý của cơ quan thuế các cấp thì không thể phát triển hoạt động đại lý thuế thành hệ thống. Chúng ta chỉ đang có những đại lý thuế hoạt động “cò con”, đơn lẽ và tiếp tục sẽ là như thế trong nhiều năm sau nữa.

– Thứ ba, vì sao những cá nhân (hội đủ điều kiện theo pháp luật), lại không được làm Đại lý thuế để hỗ trợ cho những cá nhân người nộp thuế khác trong việc làm dịch vụ thủ tục thuế ? Vì sao phải hạn chế cá nhân làm Đại lý thuế?

Nguyễn Thái Sơn

Đại lý thuế Sài Gòn