Thu thuế từ vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam – không dễ

(TBKTSG) – Gần đây, Tổng cục Thuế Việt Nam khẳng định có đủ cơ sở pháp lý để thu thuế từ thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam. Chúng ta thử phân tích cơ sở pháp lý của việc thu thuế này căn cứ luật pháp Việt Nam và các hiệp định về tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam tham gia.

Hệ thống siêu thị Big C Việt Nam đã được chuyển nhượng cho tập đoàn Central Group của Thái Lan. Ảnh: MINH KHUÊ

Theo một bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ Online(1), cơ quan thuế Việt Nam cho biết đang nghiên cứu xem Big C Việt Nam có tránh thuế qua giao dịch liên kết (chuyển giá) hay không. Bài viết còn trích lời một lãnh đạo của Tổng cục Thuế, theo đó dù các công ty có liên quan đến thương vụ này đều nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng hệ thống Big C Việt Nam có phát sinh thu nhập từ Việt Nam nên khi chuyển nhượng hệ thống này, nhà đầu tư phải nộp thuế. Cũng theo vị này, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) quy định rõ số tiền thuế được tính trên cơ sở lấy tổng trị giá chuyển nhượng trừ tổng vốn đầu tư và các chi phí sau đó nhân với mức thuế suất 20%.

Bên bán và bên mua

Toàn bộ hệ thống 32 siêu thị mang tên Big C trên toàn quốc hiện đang được sở hữu bởi Công ty Cavi Retail (đăng ký tại Hồng Kông). Mỗi siêu thị được thành lập dưới hình thức một doanh nghiệp có vốn do Công ty Cavi Retail góp. Ngoài ra, Công ty Cavi Retail cũng đang sở hữu Công ty cổ phần Bất động sản Việt Nhật chuyên cho thuê mặt bằng của 32 siêu thị Big C tại Việt Nam, và Công ty TNHH Dịch vụ EB chuyên phân phối hàng hóa cho 32 siêu thị Big C tại Việt Nam.

Trước khi thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam hoàn tất, tập đoàn Casino (đăng ký tại Pháp) là chủ sở hữu các cổ phần trong Công ty Cavi Retail nói trên. Trong thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam, Công ty Cavi Retail không đóng vai trò là bên bán hệ thống 32 siêu thị mang tên Big C mà họ đang sở hữu. Thương vụ này đã diễn ra bên ngoài Việt Nam, trong đó tập đoàn Casino chuyển nhượng cổ phần trong Công ty Cavi Retail cho tập đoàn Central Group (đăng ký tại Thái Lan).

Như vậy, thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam là một giao dịch chuyển nhượng vốn điển hình, hoàn toàn không phải là giao dịch liên kết nhằm mục đích chuyển giá, như thói quen quan tâm của cơ quan thuế Việt Nam đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vấn đề pháp lý đặt ra ở đây, do đó, là lợi nhuận phát sinh từ một giao dịch chuyển nhượng vốn diễn ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam liệu có thể trở thành thu nhập chịu thuế theo luật pháp Việt Nam hay không?

Thu nhập chịu thuế

Khẳng định có đủ cơ sở pháp lý thu thuế từ thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam của Tổng cục Thuế Việt Nam có vẻ thiếu cơ sở vững chắc cả về phương diện pháp lý lẫn thực tế.

Chúng ta cần đối chiếu với luật thuế hiện hành để tìm hiểu về thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nước ngoài.

Theo khoản 2, điều 2 của Luật Thuế TNDN ban hành năm 2008, doanh nghiệp nước ngoài nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam, và chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam khi doanh nghiệp nước ngoài này có cơ sở thường trú tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó.

Theo khoản 2, điều 3 của Luật Thuế TNDN, thu nhập chịu thuế bao gồm cả thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Theo khoản 1, điều 14 của Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18-6-2014 (Thông tư 78), “thu nhập từ chuyển nhượng vốn” của doanh nghiệp là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư, cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác (bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp).

Như vậy, doanh nghiệp nước ngoài chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn khi vốn hay tài sản được chuyển nhượng thuộc về một tổ chức đăng ký thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Quay trở lại trường hợp Big C Việt Nam, vốn trong các công ty điều hành 32 siêu thị Big C tại Việt Nam không phải là đối tượng chuyển nhượng của thương vụ này. Phần vốn được chuyển nhượng, trên thực tế, thuộc về Công ty Cavi Retail của Hồng Kông, và do vậy không thuộc về một tổ chức đăng ký thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Cho nên, nhận định của vị lãnh đạo của Tổng cục Thuế, rằng hệ thống Big C Việt Nam có phát sinh thu nhập từ Việt Nam, cần phải được xem lại bởi hệ thống Big C Việt Nam không thể có bất kỳ thu nhập nào từ giao dịch vốn đó. Do vậy, cách tính số tiền thuế cho hệ thống Big C Việt Nam trên cơ sở lấy tổng trị giá chuyển nhượng (không liên quan đến hệ thống Big C Việt Nam) trừ tổng vốn đầu tư và các chi phí (của hệ thống Big C Việt Nam), sau đó nhân với mức thuế suất 20% là hoàn toàn không chính xác theo luật pháp Việt Nam hiện hành.

Thu nhập chịu thuế (nếu có) trong thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam không thuộc phạm vi định nghĩa về thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn căn cứ khoản 2, điều 3 của Luật Thuế TNDN và khoản 1, điều 14 của Thông tư 78.

Tập đoàn Casino có phải là đối tượng nộp thuế?

Do tập đoàn Casino là bên bán trong giao dịch chuyển nhượng vốn nói trên nên tập đoàn Casino có khả năng bị xem là đối tượng nộp thuế từ phần thu nhập thặng dư (nếu có) mà bên này được hưởng sau khi bán phần vốn của mình.

Tuy nhiên, theo Luật Thuế TNDN và Thông tư 78, đối tượng nộp thuế chỉ có thể là những cá nhân và tổ chức nào hưởng thu nhập chịu thuế trong phạm vi định nghĩa của điều 14 của Thông tư 78. Như đã phân tích ở trên, thu nhập chịu thuế (nếu có) của Tập đoàn Casino trong giao dịch chuyển nhượng vốn trong Công ty Cavi Retail lại hoàn toàn không thuộc phạm vi áp dụng của điều 14 Thông tư 78.

Theo khoản 2, điều 2 của Thông tư 78, tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nếu có hoạt động chuyển nhượng vốn thì nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại điều 14 của Thông tư 78. Yếu tố “sản xuất kinh doanh tại Việt Nam” trong điều khoản đó rất quan trọng, vì Tập đoàn Casino không sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, nên hiển nhiên không phải là đối tượng thực hiện nộp thuế của quy định này .

Công ty Cavi Retail có phải là đối tượng nộp thuế?

Điều 1 của Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 6-8-2014 (Thông tư 103) quy định rằng tổ chức nước ngoài thuộc đối tượng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm tổ chức nước ngoài thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh phân phối hàng hóa tại Việt Nam, trong đó tổ chức nước ngoài vẫn là chủ sở hữu đối với hàng hóa giao cho Việt Nam hoặc chịu trách nhiệm về chi phí phân phối, quảng cáo, tiếp thị chất lượng hàng hóa giao cho tổ chức Việt Nam hoặc ấn định giá bán hàng hóa. Đây có lẽ là cơ sở pháp lý tốt nhất để Tổng cục Thuế Việt Nam viện dẫn, từ đó xem Công ty Cavi Retail là đối tượng nộp thuế.
Tuy nhiên, trên thực tế, Công ty Cavi Retail không có hoạt động chuyển nhượng vốn, do vậy không có thu nhập từ hoạt động này, càng không hoạt động kinh doanh phân phối hàng hóa tại Việt Nam, và cũng không phải là chủ sở hữu đối với hàng hóa giao cho Việt Nam hoặc chịu trách nhiệm về chi phí phân phối, quảng cáo, tiếp thị chất lượng hàng hóa, hoặc ấn định giá bán hàng hóa mà hệ thống 32 công ty siêu thị Big C tại Việt Nam phân phối.

Quan hệ giữa Công ty Cavi Retail và các công ty điều hành 32 công ty siêu thị Big C tại Việt Nam thuần túy là mối quan hệ pháp lý trong đó công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là chủ sở hữu của công ty con, theo quy định tại điều 190 Luật Doanh nghiệp. Nói cách khác, Công ty Cavi Retail không thể là đối tượng nộp thuế theo Thông tư 103.

Chiếu theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Điểm e, khoản 3, điều 6 của Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24-12/-2013 (Thông tư 205) về tránh đánh thuế hai lần quy định rằng doanh nghiệp có trụ sở tại nước ngoài phải chịu thuế tại nơi phát sinh thu nhập khi doanh nghiệp này không phải đóng thuế hoặc thấp hơn 10% tại nước ngoài.

Tập đoàn Casino là một doanh nghiệp có trụ sở tại Pháp, nơi mà thuế chuyển nhượng vốn theo luật của nước Pháp cao hơn 10%. Vì vậy, nếu vẫn kết luận rằng tập đoàn Casino là đối tượng nộp thuế, thì cơ quan thuế Việt Nam vẫn khó có thể từ chối áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký với Pháp cho trường hợp của tập đoàn Casino.

Mặt khác, Hồng Kông là nơi có thuế chuyển nhượng vốn bằng 0%. Như vậy, theo điểm e, khoản 3, điều 6 của Thông tư 205, cơ quan thuế Việt Nam có thể từ chối áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký với Hồng Kông cho trường hợp của Công ty Cavi Retail. Tuy nhiên, hiệp định này lại không quy định giới hạn hưởng lợi hiệp định cho các doanh nghiệp không phải đóng thuế hoặc thấp hơn 10%, vì vậy có nhiều khả năng cơ quan thuế Việt Nam sẽ áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với lý do hiệp định có hiệu lực cao hơn thông tư.

Tuy nhiên, trong cả hai giả định rằng hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Hồng Kông có thể hoặc không thể áp dụng, Công ty Cavi Retail cũng đều không phải đóng thuế tại Việt Nam hoặc Hồng Kông, bởi lẽ công ty này không tham gia vào hoạt động chuyển nhượng chính nó, không nhận thu nhập từ hoạt động này và không phải là đối tượng nộp thuế như đã phân tích ở trên.

Tuy Tổng cục Thuế Việt Nam khẳng định có đủ cơ sở pháp lý thu thuế từ thương vụ chuyển nhượng Big C Việt Nam, nhưng như chúng tôi đã phân tích các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam và các hiệp định về tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam tham gia, sự khẳng định đó có vẻ thiếu cơ sở vững chắc cả về phương diện pháp lý lẫn thực tế.

(*) Công ty EZLAW

(1) http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20160510/se-kiem-tra-hoat-dong-chuyen-gia-tai-big-c-vn/1098145.html

Luật sư Trần Đức Hoàng (*)

http://www.thesaigontimes.vn/