Công ty xây dựng A nhận thầu xây dựng công trình nhà ở, sau đó giao khoán từng phần công việc (như: thi công nền móng; xây tường; điện; nước,…) cho nhiều nhóm người thi công khác nhau.

HỎI:

1) Công ty A ký hợp đồng giao khoán công việc cho người đại diện nhóm và khấu trừ thuế TNCN cho cả nhóm?  Hay Công ty A phải ký hợp đồng khoán việc với từng người trong nhóm và khấu trừ thuế TNCN  của từng người?

2) Khấu trừ thuế TNCN 10% trong 2 trường hợp này có đúng quy định không ? Hay phải sử dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền công?

3) Chi phí tính thuế TNDN đối với công ty A về phần nhân công có được đưa vào chi phí hợp lý không  ? (nếu có đủ hợp đồng giao khoán, chứng từ thanh toán, khấu trừ thuế TNCN,…)

4) Cty xây dựng có phải nộp bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người, nhóm người nhận khoán việc không?

hoi-dap-101

 

ĐÁP:

Hợp đồng giao khoán là loại hợp đồng khá phổ biến trong hoạt động xây dựng, xuất phát từ đặc thù của nghề xây dựng là để dễ dàng quản trị. Tuy nhiên, xem xét hợp đồng giao khoán thì vấn đề này cần được làm sáng tỏ dựa trên căn cứ pháp luật, từ những khái niệm cơ bản.

1) Khái niệm về hợp đồng khoán việc:

Hợp đồng khoán việc là sự thỏa thuận của hai bên, theo đó bên nhận khoán có nghĩa vụ hoàn thành một công việc nhất định theo yêu cầu của bên giao khoán và sau khi đã hoàn thành phải bàn giao cho bên giao khoán kết quả của công việc đó. Bên giao khoán nhận kết quả công việc và có trách nhiệm trả cho bên nhận khoán tiền công, tiền thù lao đã thỏa thuận.

Phân loại hợp đồng khoán việc:

– Hợp đồng khoán việc toàn bộ :  Bên giao khoán trao cho bên nhận khoán toàn bộ các chi phí, bao gồm cả chi phí vật chất lẫn chi phí công lao động có liên quan đến các hoạt động để hoàn thành công việc. Trong khoản tiền người giao khoán trả cho người nhận khoán bao gồm chi phí vật chất, công lao động và lợi nhuận từ việc nhận khoán.

– Hợp đồng khoán việc từng phần:  Người nhận khoán phải tự lo công cụ lao động. Người giao khoán phải trả tiền khấu hao công cụ lao động và tiền công lao động.

“Hợp đồng khoán việc” dựa trên cơ sở pháp lý là Điều 513, Bộ luật Dân sự: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.” 

“ Hợp đồng giao khoán” không phải là “hợp đồng lao động”, bởi trong hợp đồng giao khoán không có các chủ thể là "người lao động" và "người sử dụng lao động"- theo quy định Bộ luật Lao động.

Nói khác, “Hợp đồng khoán việc” thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự; khác hẳn “hợp đồng lao động” thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động.

2) “Hợp đồng khoán việc” với BHXH, thuế TNDN, thuế TNCN:

* Về BHXH: do “hợp đồng khoán việc” không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động nên cá nhân, đại diện nhóm người nhận khoán việc sẽ không được khai nộp BHXH.

* Về thuế TNDN: công ty xây dựng, nếu có hợp đồng khoán việc ký với cá nhân, có chứng từ thanh toán và có khấu trừ thuế TNCN của từng cá nhân nhận khoán, thì việc khoán chi phí lao động thuê ngoài đó, vẫn được tính là chi phí hợp lý khi xác định thuế TNDN.

* Về thuế TNCN: Tiền thù lao trong hợp đồng giao khoán, chính làtiền dịch vụ khác, thù lao khác ( theo Điều 2, khoản 2, điểm c, Thông tư 111/2013).  Do đó, công ty xây dựng phải có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN của người nhận khoán việc.

Mức khấu trừ thuế TNCN được qui định tại điểm i), Điều 25, Thông tư 111/2013: “…có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập,trước khi trả cho cá nhân."

Trường hợp một cá nhân trưởng nhóm- đại diện cho cả nhóm nhận khoán việc- đứng tên trên “hợp đồng khoán việc” ký với DN xây dựng và nhận toàn bộ số tiền về chia lại cho anh em trong nhóm, thì có nhiều rủi ro, cơ quan thuế sẽ qui kết thu nhập của trưởng nhóm là toàn bộ số tiền mà anh ta đã ký nhận thay cho cả nhóm và do đó, truy thu thuế TNCN của trưởng nhóm, theo mức thuế suất có thể đến 30%. 

Để tránh rủi ro nầy thì nên chú ý thực hiện một số việc: (1) hợp đồng khoán việc nên ghi rõ tính chất đại diện của cá nhân trưởng nhóm; đồng thời đính kèm chi tiết nhân thân (số CMND hay MST,…) của từng cá nhân trong nhóm; (2) từng cá nhân lãnh tiền phải ký nhận trực tiếp vào danh sách chi trả của DN xây dựng; (3) DN xây dựng phải lập danh sách khấu trừ thuế TNCN 10% đối với từng cá nhân trong nhóm.

CLB Đại Lý Thuế TP.HCM