Thuế Nhà Thầu Đối Với Thu Nhập Từ Quyền Sử Dụng Phần Mềm – Hiểu Thế Nào Cho Đúng?

Ngày 17 tháng 6 năm 2018

Công ty A chuyên kinh doanh sản phẩm phần mềm đóng gói – được nhập khẩu từ công ty nước ngoài B (chẳng hạn: Mỹ). DN nước ngoài bán sản phẩm phần mềm thông qua mạng internet, theo cách thức online, từ thông tin đặt hàng, Invoice giao hàng và cung cấp thông tin mã code,…

Vậy, Cty A có phải nộp thuế Nhà thầu -thay cho cty B ở nước ngoài- đối với quyền sử dụng sản phẩm phần mềm của cty B tại VN không?

 hoi-dap-39

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Hiện nay, có hai quan điểm áp dụng pháp luật đối với vấn đề nầy.

1. Quan điểm 1: Cty A phải nộp thay thuế Nhà thầu đối với thu nhập từ quyền sử dụng phần mềm của cty nước ngoài B.

Cơ sở lập luận của quan điểm nầy như sau:

a) Căn cứ theo qui định tại Khoản 3 Điều 7, Thông tư số 103/2014/TT-BTC về thuế Nhà thầu: “ Thu nhập từ tiền bản quyền là: khoản thu nhập dưới bất kỳ hình thức nào được trả cho quyền sử dụngchuyển quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ,bản quyền phần mềm (bao gồm: các khoản tiền trả cho quyền sử dụng, chuyển giao quyền tác giả và quyền chủ sở hữu tác phẩm; chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm).

b) Thực tế, “phần mềm” được mua từ nước ngoài đã không khai báo hải quan, như đối với hàng hoá nhập khẩu thông thường. Do đó, khi công ty A thanh toán tiền cho Cty nước ngoài B, thì có thể xem là Cty B đã nhận được thu nhập trả cho quyền sử dụng phần mềm của Cty B tại VN.

Do đó, cty B phải bị truy thu thuế Nhà thầu, do có phát sinh thu nhập từ bản quyền phần mềm phát sinh tại VN, theo qui định pháp luật nêu trên.

Quan điểm nầy thường được các đoàn thanh tra thuế vận dụng, nhằm tránh tối đa việc bỏ sót nguồn thu.

 

2. Quan điểm 2:   Cty A không phải nộp thay thuế Nhà Thầu cho DN nước ngoài vì họ không có thu nhập từ quyền sử dụng bản quyền phần mềm.

Cơ sở lập luận như sau:

a) Về thủ tục khai báo hải quan:

Căn cứ khoản 6, Điều 4 Luật Hải quan giải thích về hàng hoá xuất, nhập khẩu: “Hàng hóa- bao gồm động sản- có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ tại địa bàn hoạt động hải quan”.

Đối với “phần mềm”, hiện nay không có tên gọi và mã số trong Danh mục hàng hoá xuất khẩu (Thông tư số 65/2017/TT-BTC) và Danh mục biểu thuế XNK.

Do đó, phần mềm nhập khẩu qua mạng Internet không phải qua địa bàn giám sát của cơ quan Hải quan và cơ quan HQ cũng không yêu cầu Công ty phải làm thủ tục hải quan đối với phần mềm nhập khẩu qua mạng internet.

b) Tại Khoản 3 Điều 7, Thông tư số 103/2014/TT-BTC đã nêu trên: “ Thu nhập từ tiền bản quyền là: khoản thu nhập dưới bất kỳ hình thức nào được trả cho quyền sử dụng, chuyển quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm… “ đã trích dẫn thiếu một đoạn quan trọng, là:  “Quyền tác giả, quyền chủ sở hữu tác phẩm”, “Quyền sở hữu công nghiệp”, "Chuyển giao công nghệ" quy định tại Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Điều nầy có ý nghĩa là: để hiểu thế nào là khoản tiền trả cho quyền sử dụng, chuyển quyền sở hữu trí tuệ, thì phải căn cứ theo qui định của Luật Sở hữu Trí tuệ; pháp luật Thuế không giải thích thêm.

Theo Luật Sở hữu Trí tuệ(số 19/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013), thì:

* Điều 22 đã xác định:   Chương trình máy tính nằm trong khái niệmvề Quyền tác giả: “Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.”

*Điều 47, khoản 1, qui định rõ: “Chuyển quyền sử dụng quyền tác giảlà việc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20 của Luật này.

* Cụ thể, Các quyền quy định tại khoản 3, Điều 19 và Điều 20, Luật SHTT, bao gồm 7 quyền, như sau:

– Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.- Quyền làm tác phẩm phái sinh;- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng;- Quyền sao chép tác phẩm;- Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Tóm lại, chỉ khi Cty A trả tiền cho DN nước ngoài để có quyền sử dụng bản quyền phần mềm (gồm 1 trong 7 quyền được liệt kê trên), thì công ty A mới phải khấu trừ và nộp thay thuế Nhà thầu cho cty nước ngoài.

Lập luận theo quan điểm 2 được sử dụng trong các tranh chấp với các đoàn thanh tra thuế.

Cả hai quan điểm đều có lý luận làm cơ sở. Rất mong được Bộ Tài chính xem xét và có hướng dẫn chi tiết để có cách hiểu thống nhứt, thi hành trên phạm vi cả nước.

Nguyễn Thái Sơn

Công ty CP Tư vấn Thuế Sài Gòn

http://saigontax.net